Cập nhật vĩ mô tháng 9 & 9 tháng đầu năm 2023 - Tăng trưởng phục hồi nhưng vẫn đầy thách thức

Kết thúc 9 tháng đầu năm 2023, các số liệu được công bố cho thấy còn tồn tại nhiều ẩn số ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay.
Bên cạnh điểm tích cực ghi nhận từ tiến độ giải ngân đầu tư công và vốn đầu tư FDI, nền kinh tế vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm nay.

DỮ LIỆU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý 3/2023 ước tính tăng 5,33% (YoY), chỉ cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ các năm 2020 và 2021 trong giai đoạn 2011-2023 nhưng vẫn giữ xu hướng tích cực (quý I tăng 3,28%, quý II tăng 4,05%, quý III tăng 5,33%). 9 tháng đầu năm 2023, mức tăng trưởng là 4,24% (YoY), cho thấy những khó khăn của nền kinh tế vẫn tiếp diễn trong bối cảnh vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức do nền kinh tế toàn cầu suy giảm, lạm phát vẫn cao dù đã hạ nhiệt hay các bất ổn kinh tế, chính trị,…

Khu vực dịch vụ trở thành động lực tăng trưởng chính cho nền kinh tế khi sản xuất suy giảm. Trong quý 3, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,72%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,2%, khu vực dịch vụ tăng 6,24%, lần lượt đóng góp 8,03%, 38,63% và 53,34% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

2. Chỉ số quản trị mua hàng (PMI)

Chỉ số quản trị mua hàng PMI tháng 9 giảm nhẹ xuống vùng thu hẹp ở mức 49,7 sau khi đạt 50,5 điểm trong tháng 8.

Bức tranh ngành sản xuất có sự tương phản khi ở khía cạnh tích cực, các công ty tiếp tục ghi nhận nhu cầu tăng với số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng tháng thứ hai liên tiếp. Tuy vậy, các công ty vẫn giảm nhẹ sản lượng và việc làm do tình trạng năng lực sản xuất dư thừa trong ngành, đồng thời ưu tiên sử dụng hàng tồn kho tích lũy để đáp ứng các đơn đặt hàng mới.
Từ những tín hiệu này, ngành sản xuất có thể đang ở thời điểm bước ngoặt. Nếu nhu cầu tiếp tục tăng sẽ dẫn đến tăng trưởng trong ngành, tạo động lực cho sự hồi phục của nền kinh tế. Nhưng nếu tình trạng phục hồi của số lượng đơn đặt hàng mới giảm, các công ty vẫn sẽ e ngại trong việc tăng quá nhanh năng lực sản xuất.

3. Tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước đạt 524,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng khá cao và các dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Bên cạnh đó, việc có kỳ nghỉ lễ 2/9 và học sinh bước vào năm học mới nên hoạt động thương mại tháng 9 sôi động hơn tháng trước.

Trong quý 3/2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.550,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% so với quý trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu bán lẻ và dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 9 tăng trưởng lần lượt 7,4% và 13,72% so với cùng kỳ. Trong khi đó, doanh thu dịch vụ lữ hành tăng mạnh 44,93% do nhu cầu du lịch tăng cao sau khoảng thời gian bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và việc tích cực triển khai nhiều hoạt động nhằm kích cầu du lịch của các địa phương từ đầu năm đến nay.

4. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) và ngành công nghiệp chế biến chế tạo tháng 9/2023 ước tính lần lượt tăng 5,1% và 5,87% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng trưởng tốt nhất kể từ tháng 11/2022.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng đầu năm 2023 chỉ tăng 1,65% so với cùng kỳ, là mức tăng thấp nhất của cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011-2023.
Có thể thấy dù các ngành sản xuất đang bước vào giai đoạn phục hồi tích cực, sản lượng và đơn hàng mới nhóm công nghiệp chế biến chế tạo đang tăng trở lại, sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa và xuất khẩu nhưng nhìn chung ngành công nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh tổng cầu thế giới suy giảm.

DỮ LIỆU LẠM PHÁT

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2023 tăng 3,12% so với tháng 12/2022 và 3,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng đầu năm, CPI tăng 3,16% (YoY), lạm phát cơ bản tăng 4,49%. CPI có xu hướng tăng trở lại từ tháng 7 năm nay do các tác động từ giá gạo, giá dầu trong nước tăng theo giá thế giới, cùng với chi phí giáo dục tăng trong tháng tựu trường.

So với tháng 8, CPI tháng 9/2023 tăng 1,08% do 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước; riêng nhóm bưu chính, viễn thông giá giảm nhẹ.
Lạm phát cơ bản tháng 9/2023 tăng 3,8% (YoY). Bình quân 9 tháng đầu năm, lạm phát cơ bản tăng 4,49% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu do bình quân giá xăng dầu, giá dầu hỏa, giá gas trong nước 9 tháng là yếu tố kiềm chế tốc độ tăng của CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Nhìn chung, lạm phát trong năm 2023 vẫn đang được kiểm soát tốt. Theo dự báo, bình quân cả năm 2023, lạm phát sẽ biến động ở mức khoảng 2,5 - 3,5% và mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4,5% năm nay sẽ được hoàn thành.

TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG

Theo Bộ tài chính, vốn giải ngân đầu tư công tháng 9 ghi nhận 65 nghìn tỷ đồng, cao nhất từ đầu năm, luỹ kế từ đầu năm đạt 363 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng luỹ kế so với cùng kỳ là 43,52% (YoY). Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong 9 tháng đầu năm đạt 51,38% kế hoạch Chính phủ giao (~707 nghìn tỷ đồng) và là năm đầu tiên trong 3 năm gần nhất tỉ lệ này vượt mức 50%.

Giải ngân vốn đầu tư công thường có xu hướng đẩy mạnh vào giai đoạn cuối năm. Trong tháng 8, vốn giải ngân mặc dù ở mức khiêm tốn so với các tháng trước đó, nhưng bước sang tháng 9 đã cải thiện hơn nhiều, đi kèm với kỳ vọng những tháng cuối năm sẽ tiếp tục tích cực hơn. Kỳ vọng giải ngân đầu tư công cuối 2023 tiếp tục đến từ các dự án trọng điểm đang được triển khai như Cao tốc Bắc - Nam giai đoạn 1&2, sân bay Long Thành, Vành đai 3 (Tp.HCM),…
Có thể thấy rằng đây là tín hiệu tích cực khi đầu tư công là một công cụ chính sách tài khóa hữu hiệu. Trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng chậm khi sản xuất công nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, thị trường bất động sản còn nhiều vướng mắc, tín dụng ra nền kinh tế còn chậm, việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công sẽ giúp tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế trong giai đoạn cuối năm.

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Tháng 9/2023, vốn đầu tư thực hiện của các dự án đầu tư nước ngoài (FDI) ghi nhận 2,8 tỷ USD, cao nhất kể từ đầu năm, luỹ kế 9 tháng đầu năm, vốn giải ngân đạt 15,9 tỷ USD (+2,25% YoY), cao nhất trong giai đoạn 2018 - 2023. Tính đến hết tháng 9, vốn FDI đăng ký đạt 20,21 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ. Về cơ cấu ngành thu hút FDI, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 14 tỷ USD (+15.5% YoY), chiếm 69.3% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Trong 9 tháng, có 2.254 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư (+ 66,3% YoY), với tổng vốn đăng ký đạt hơn 10,23 tỷ USD (+43,6% YoY) và 2.539 giao dịch góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp đạt hơn 4,82 tỷ USD (+47% YoY) cho thấy sự tích cực lớn trong thu hút vốn FDI của Việt Nam trong năm 2023.
Có thể thấy, tình hình thu hút vốn FDI vẫn khá tích cực trong tháng 9 nói riêng và cả năm 2023 nói chung. Dù ngắn hạn thu hút FDI chưa có sự tăng trưởng quá mạnh mẽ trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn có nhiều lợi thế về chi phí và vị trí, cũng như những nỗ lực triển khai hàng loạt dự án hạ tầng và giảm bớt thủ tục hành chính để làm tiền đề hút vốn FDI trong thời gian tới.

Nền kinh tế Việt Nam đã có những dấu hiệu phục hồi song còn phải đối mặt với nhiều thách thức. Tăng trưởng GDP vẫn giữ được xu hướng tích cực, song đã cần đến 4 lần hạ lãi suất và rất nhiều chính sách hỗ trợ khác để đạt được điều này, cùng với đó là câu chuyện về sản xuất công nghiệp vẫn còn khó khăn, năng lực sản xuất dư thừa dẫn dù nhu cầu và niềm tin kinh doanh tăng. Tuy vậy, vẫn tồn tại những điểm sáng nổi bật trong bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam, đó là FDI cao kỷ lục, cùng với tăng cường giải ngân vốn đầu tư công là động lực tăng trưởng chính cho giai đoạn cuối năm 2023.